T2 – T6 | 8:30am – 5:00pm
  • Hotline

    +8428.7300.1690

  • Email

    support@rheinolvietnam.com

  • Contact Us
 TÌM HIỂU VỀ DẦU TỔNG HỢP TOÀN PHẦN

TÌM HIỂU VỀ DẦU TỔNG HỢP TOÀN PHẦN

I. DẦU TỔNG HỢP TOÀN PHẦN LÀ GÌ?

Là dầu được tạo ra bằng các phản ứng hóa học từ những hợp chất ban đầu, do đó nó có những tính chất được định ra trước. Nó có thể có những tính chất tốt nhất của dầu khoáng, bên cạnh nó còn có các tính chất khác đặc trưng như là: không cháy, không hòa tan lẫn trong nước, dầu tổng hợp là có khoảng nhiệt độ hoạt động rộng từ -55°C đến 320°C, có độ nhiệt lớn, có nhiệt độ đông đặc thấp, chỉ số độ nhớt cao. Do được tạo ra từ phòng thí nghiệm, các nhà sản xuất có thể “cân, đo, đong, đếm” để tạo ra loại dầu với phục vụ các nhu cầu nhất định (dầu máy, dầu hộp số, dầu trợ lực…) với độ chính xác và hiệu quả cao nhất. Sự đồng nhất về phân tử sẽ làm giảm đáng kể ma sát khi chúng va chạm với nhau và hạn chế nhiệt sinh ra

Hiện nay Polyalphaolefins là loại dầu gốc tổng hợp phổ biến nhất được sử dụng trong các chất bôi trơn công nghiệp và ô tô. Nó là một hydrocarbon tổng hợp (SHC) bắt chước cấu trúc hydrocacbon tốt nhất (phân nhánh) được tìm thấy trong dầu khoáng.

II. ĐẶC TÍNH CỦA DẦU CÓ GỐC POLYALPHAOLEFINS

Polyalphaolefins không chứa cấu trúc vòng, liên kết đôi, lưu huỳnh, thành phần nitơ hoặc hydrocacbon sáp. Sự vắng mặt của các cấu trúc và vật liệu này dẫn đến một loại dầu gốc rất không phân cực với chỉ số độ nhớt cao (khoảng 130), lưu lượng nhiệt độ thấp và đặc điểm đổ, độ ổn định oxy hóa tốt và khả năng tương thích với dầu khoáng, sơn và con dấu thường được tìm thấy trong các hệ thống dầu bôi trơn. Do cấu trúc được kiểm soát của chúng, PAO’s không chứa các hydrocacbon nhẹ hơn, dễ bay hơi hơn. Điều này làm giảm sự biến động của chúng, tạo ra ít khí thải khí hydrocarbon hơn và làm tăng điểm chớp cháy.

III. ƯU ĐIỂM CỦA DẦU TỔNG HỢP TOÀN PHẦN (FULLY SYNTHETIC)

Chúng cũng ổn định về trạng thái hơn nhiều so với dầu gốc khoáng ở nhiều nhiệt độ khác nhau. Nói cách khác, dầu tổng hợp toàn phần không bị loãng ra quá mức khi bị nóng hoặc đông đặc lại khi nhiệt độ xuống thấp. Bên cạnh việc chịu nhiệt độ tốt hơn so với dầu gốc khoáng truyền thống, chúng cũng tải nhiệt đi tốt hơn và ít bị bay hơi – giúp động cơ vận hành mát mẻ và bền bỉ hơn. Việc duy trì được độ nhớt và hạn chế bay hơi phân tử sẽ tránh tình trạng va chạm trực tiếp kim loại khi động cơ vận hành – giảm thiểu hao mòn.

Mặt khác, cũng chính vì việc ít bị biến chất do ôxy hoá và xuống cấp, dầu tổng hợp toàn phần có thể được sử dụng dài hơi hơn nhiều so với dầu gốc khoáng – vốn xuống cấp khá nhanh. Điều này đồng nghĩa với việc người dùng có thể thay thế chúng sau mỗi 16.000 – 25.000 km – tức là gấp từ 3 đến 4 lần chu kì của dầu gốc khoáng truyền thống. Đây là một lợi điểm rất lớn khi bạn tính đến tính tiện dụng và vai trò của yếu tố này trong các chuyến hành trình dài cũng như sự an toàn đối với môi trường tự nhiên. Ở khía cạnh này, mức giá cao hơn so với dầu gốc khoáng sẽ là hoàn toàn hợp lý – nếu không muốn nói là vẫn rẻ. Đáng chú ý, một số công ty dầu ngày nay thậm chí có thể quảng cáo chu kì thay sản phẩm của họ lên tới 40.000km nhưng theo các chuyên gia về dầu, đây là mức không nên tuân theo. Cuối cùng, dầu có chất lượng tốt cũng sẽ cho phép các nhà sản xuất giảm thể tích của chúng trong động cơ – động thái cho phép giảm trọng lượng xe, tiết kiệm chi phí và bảo vệ môi trường.

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *